“NGÀY XỬA NGÀY XƯA”

Những câu chuyện, điển tích về sự hiện diện, cuộc sống của người LGBTQ hoặc mang tính queer gắn liền với các dấu mốc lịch sử và được soi chiếu qua lăng kính các giá trị của xã hội hiện đại. Từ các điển tích về Bà Triệu tới vua Khải Định, hay những câu chuyện Tình trai thời chiến được cộng đồng thích thú đón nhận và chia sẻ. Triển lãm “Ngày xửa ngày xưa” diễn ra trong 6 ngày tại Hà Nội đã thu hút gần 1000 lượt xem và sự quan tâm của hơn 40.000 lượt tương tác trên truyền thông.

Vui lòng bấm vào từng ảnh để xem chi tiết.

[cq_vc_expandgrid gridnumber=”4″ openfirst=”yes” nocircular=”nocircular”][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”BÀ TRIỆU (225 – 248)” bgstyle=”lightgray” image=”7725″ isresize=””]
Artwork by Xander at the workshop Xưởng Tạo Bóng

BÀ TRIỆU

Bà Triệu (225-248)/ Triệu Thị Trinh/ Triệu Trinh Nương/ Nhụy Kiều tướng quân, có công trong đánh đuổi quân Ngô bảo vệ đất nước.

Theo nhiều tài liệu lịch sử, Bà Triệu được mô tả là người nữ với những thể hiện giới khác với chuẩn mực của một người nữ bấy giờ. “là một người con gái nhưng tướng mạo lại tựa như một người con trai.Cho nên ông bà mới đặt tên gọi là Ẩu.” (“Hình tuy hài nữ, tướng tự kỳ nam. Cố danh hiệu viết Ẩu”).

Không chỉ từ dáng vẻ bề ngoài, mà quan điểm của bà cũng thể hiện sự “lệch chuẩn” với những khuôn phép mà người nữ thời bấy giờ phải tuân theo “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”.

Với nhân vật này, và thời điểm mà bà sống, từ “queer” hay “LGBT”, hay “đa dạng tính dục, bản dạng giới, thể hiện giới” chưa hề tồn tại, nhưng quan điểm và thể hiện của bà là điển hình cho sự phá vỡ những khuôn mẫu xã hội kìm kẹp sự thể hiện bản thân của một cá nhân, điển hình cho tính queer mà chúng tôi muốn nhắc tới trong dự án này.

[/cq_vc_expandgrid_item][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”HOẠN QUAN” bgstyle=”lightgray” image=”7728″ isresize=””]

Artwork by Foong at the workshop Xưởng Tạo Bóng

HOẠN QUAN

Hoạn quan hay thái giám, là những từ khá quen thuộc, chỉ một chức quan trong cung cấm, chuyên hầu hạ vua chúa và chăm lo các công việc nội cung. Nhưng có thể có đôi điều về xuất thân của họ ít khi được đề cập trong sử sách, báo chí, phim ảnh. Bài viết dưới đây hy vọng đem lại thêm đôi chút thông tin về cộng đồng queer xưa trong chốn cung cấm đã suýt bị lãng quên này:

1. Hoạn quan và hoạn
Thực ra “Hoạn quan” = “thái giám”; nhưng nghĩa gốc chữ “hoạn” trong từ này không mang là “thiến” như dân gian ta hay dùng như bây giờ. Gốc của chữ “hoạn” là “hầu hạ” (宦), và “hoạn quan” nghĩa là chức quan chuyên hầu hạ, chăm lo cho chủ nhân của mình. Tức là, nói như ngôn ngữ hiện đại, thì Hoạn quan là một danh từ chỉ nghề nghiệp rất đỗi nghiêm túc, không mang nghĩa miệt thị hay chọc ghẹo vào xuất thân của họ. Suy đoán là về sau này, từ đặc thù nghề nghiệp là phải cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần bộ phận sinh dục nam, thì chữ “hoạn” trong “hoạn quan” được thêm nghĩa mới với ý nghĩa là “thiến”, và được dùng như vậy đến tận bây giờ.

2. Muốn làm thái giám thì phải thiến?
Thực ra là không. Ghi chép lịch sử của tác giả Nguyễn Đắc Xuân, cho thấy một trong những quy định của nhà nước phong kiến, là bất kỳ đứa trẻ nam nào sinh ra khiếm khuyết hoặc dị thường về bộ phận sinh dục, mà thời ấy gọi là bán nam bán nữ, thì gia đình phải thông báo ngay cho quan lại trong vùng, sau đó các quan sẽ thông báo cho triều đình để lưu danh lại, đến tuổi khắc được nuôi dạy theo lễ nghi trong cung, sau được đưa vào cung làm các công việc hầu hạ, chăm sóc vua chúa. Nói cách khác, các intersex thời phong kiến dường như có hẳn một con đường công danh sự nghiệp tiến thẳng tới nội cung, còn vinh quang hay khổ nhục thì phần sau mới biết.

Tất nhiên, số lượng trẻ như vậy tự nhiên không nhiều (đến ngày nay thì thống kê cũng cho thấy chỉ có khoảng 1% dân số là người intersex), và cũng khó giám sát nếu như gia đình không thông báo, triều đình cũng chấp nhận các trường hợp tự nguyện hiến con đưa vào cung để làm thái giám, và những đứa trẻ này sẽ phải tịnh thân trước khi vào cung.

3. Vinh quang hay khổ nhục?
Đời người thái giám, chưa biết vui hay khổ, nhưng đẻ ra được một bé trai có đủ điều kiện tự nhiên để làm thái giám thì cả làng vui. Người Huế xưa có câu vui “Vui như làng đẻ được ông Bộ” hay “Ăn mà đẻ ông Bộ cho làng nhờ” – và “ông Bộ” không ai khác chính là các cậu bé giám sinh, được trời phú cho khác biệt ở bộ phận sinh dục. Vui vì dân làng được miễn thuế 3 năm nếu làng có cậu giám sinh, sau này cậu được lên chức tước lớn, có thể miễn thuế cả đời cho cha đẻ, hoặc chức tước vừa vừa thì cũng miễn thuế được cho em hay cháu mình. Cũng tính là đem lại may mắn phú quý cho làng xóm họ hàng, được trọng vọng lắm lắm. Trái với suy nghĩ ngày trước của chúng mình, hóa ra làm thái giám được nhiều người trọng vọng và kính nể, không phải là đối tượng chịu sự gièm pha khinh bỉ của xã hội.

Thái giám cũng có thể giữ chức tước trong triều, tham gia vào chính sự, ví dụ như ba vị tướng nổi tiếng Lý Thường Kiệt, Lê Văn Duyệt và Hoàng Ngũ Phúc. Tuy vậy, đến thời vua Minh Mạng, vua lo ngại việc các thái giám tiếm quyền chính sự, nên đã dựng tấm bia nhắc nhở quan lại từ đó về sau về chủ trương dùng thái giám để “sai khiến truyền lệnh trong chốn nội đình mà thôi, không được dự một chút nào mọi việc triều chính bên ngoài. Ai phạm phải điều nầy đều bị trừng trị nặng không chút khoan tha.”

Triều đình Huế sắp xếp Cung giám ở phía đông bắc Hoàng Thành là nơi các thái giám già về đó sống nốt quãng đời còn lại. Người có con nuôi thì có người thờ cúng sau khi mất, người không có thì được chôn và đưa vào hương khói trong chùa. Hiện chùa Từ Hiếu ở Huế là nơi chôn cất hơn 20 thái giám, cũng là những người có công xây dựng nên ngôi chùa này – mảnh đất yên nghỉ cho chính mình về sau.

Hình ảnh của các thái giám còn lưu lại cho đến ngày nay là một vài tấm ảnh được in trên những tấm bưu thiếp do Collection Dieulefils, Hà Nội ấn hành năm 1908.

Phía mặt sau của một tấm bưu thiếp có ảnh của 5 vị thái giám đứng-ngồi bên thềm Đại Nội (Huế) do nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An sưu tầm được, có bút tích của một người Pháp thời đó, mô tả các thái giám triều Nguyễn như sau:

“Người ta gọi những thái giám là những người có danh vọng trong thành. Nói đúng hơn, họ là những người tai to mặt lớn. Đó là những người đặc biệt trong dân chúng An Nam. Cũng như các đồng hương của họ, những người thái giám đội khăn đóng chứ không che mặt như kiểu các tín đồ Công giáo ở bên Pháp của ta. Ngược lại, họ để lộ mặt mũi, hình dung rất rõ ràng. – Huế 20.3.1908”.

Một tấm bưu thiếp có ảnh của 5 vị thái giám đứng-ngồi bên thềm Đại Nội (Huế) do nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An sưu tầm được.

Nguồn 1 / Nguồn 2 / Nguồn 3 / Nguồn 4[/cq_vc_expandgrid_item][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”LÝ THƯỜNG KIỆT (1019-1105)” bgstyle=”lightgray” image=”7726″ isresize=””]

Artwork by Zayn at the workshop Xưởng Tạo Bóng

LÝ THƯỜNG KIỆT

Lý Thường Kiệt / Ngô Tuấn (1019-1105) là danh tướng thời nhà Lý có công đánh bại quân Tống (1075 – 1077). Ông là người được cho là đã viết bản tuyển ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta: “Nam Quốc Sơn Hà”.

Lý Thường Kiệt là hoạn quan dạng nào, thì các sách chép đều có khác nhau đôi chút, mang tính giả thuyết nhiều. Tuy vậy, tất cả đều bác bỏ rằng Lý Thường Kiệt bẩm sinh đã ái nam ái nữ, mà là do tịnh thân sau này. Vậy thì lý do?

Có sử cũ thì chép: “Vua Lý Thánh Tông thấy Lý Thường Kiệt dung mạo đẹp đẽ, tài năng khác thường, mới khuyên ông tự thiến mình đi để tiện việc gần gũi nhà vua trong cung cấm. Lý Thường Kiệt thuận theo. Hằng ngày, ông hầu cận bên vua, hiến việc tốt, can việc xấu, giúp vua hết mọi cách”. Khi còn trẻ ông rất đẹp trai và được phong “Đệ nhất mỹ nam tử” thời bấy giờ, được vua ban quốc tính nên đổi sang họ Lý. Theo lý giải này, Lý Thường Kiệt tịnh thân là để làm quan, nhưng không thuyết phục, vì ông vốn cũng dòng dõi quý tộc.

Ngoài ra, cũng có giả thuyết rằng, Lý Thường Kiệt tự hoạn vì tiền, rồi bị phạt, rồi cả để theo người yêu bị tiến cung, đều không thuyết phục. Chỉ có giả thuyết ông bị hại được ủng hộ hơn cả, chi tiết thì đọc ở các tài liệu khác.[/cq_vc_expandgrid_item][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”HOÀNG NGŨ PHÚC (1713 -1776)” bgstyle=”lightgray” image=”7727″ isresize=””]

Artwork by Ian at the workshop Xưởng Tạo Bóng

HOÀNG NGŨ PHÚC (1713 – 1776)

Ông có công lớn với nhà Trịnh trong việc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài và là tổng chỉ huy cuộc nam tiến đánh Đàng Trong, mở mang đất đai Bắc Hà tới Quảng Nam.
Khác với Lê Văn Duyệt sinh ra đã là giám sinh, khác với Lý Thường Kiệt mãi khi khôn lớn mới tịnh thân vào cung, Hoàng Ngũ Phúc được cha nuôi định hướng từ nhỏ về việc vào cung theo đường binh nghiệp. Ông thuở nhỏ thích chơi trò đánh trận, khí phách thông minh, được Thượng Thư Bộ Binh Dương Quốc Cơ (sau này là cha nuôi của ông) để mắt tới vì một lần thấy “một đứa trẻ chơi trò trận mạc, đang điều khiển một đàn voi đất, tả xung hữu đột, hò hét vang trời. Điều lạ là đứa trẻ đi đến đâu là có mây hồng che đến đấy.” Sau đó, theo suy đoán của một số tài liệu, thì việc ông Hoàng Ngũ Phúc tịnh thân làm thái giám là cách để đưa ông vào triều, tiếp cận chính sự.

Sau khi dâng 12 điều Binh pháp cho Chúa Trịnh, ông được cho cầm quân ra trận. Tới tận năm 64 tuổi, trước khi qua đời, ông vẫn cầm quân giữ vững cơ nghiệp nhà Trịnh cho tới tận cuối đời. Do các chiến công của Hoàng Ngũ Phúc là trong thời gian nội chiến giữa chúa Trịnh, chúa Nguyễn, việc ông là phúc thần nhà Trịnh, hay là kẻ thủ ác tội đồ nhà Nguyễn thì sử sách mỗi triều đại lại có cái nhìn khác nhau, dù vậy, không bên nào phủ nhận chiến công của ông.

Lịch sử không ghi lại rõ về việc ông vào cung năm nào, giữ những chức vụ nào, mà chỉ tập trung vào những đóng góp trong binh nghiệp của ông. Ông vẫn cầm quân đánh trận tới tận gần khi mất, tức là năm 64 tuổi, giữ vững cơ nghiệp nhà Trịnh cho tới tận cuối đời. Các nhà sử học hiện đại đều nhận định ông là vị tướng tài, bất khả chiến bại, tư duy chiến lược của lịch sử Việt Nam. ​[/cq_vc_expandgrid_item][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT (1763 – 1832)” bgstyle=”lightgray” image=”7729″ isresize=””]

Artwork by Mến from workshop Xưởng Tạo Bóng

TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT

Các sách sử ghi chép ông bẩm sinh đã là người không có bộ phận sinh dục (Theo Đại Nam liệt truyện), có nơi ghi là không có tinh hoàn (Theo Kể chuyện các thái giám trong lịch sử Việt Nam). Theo thuật ngữ hiện đại thì có thể ông là người Liên giới tính (Intersex) – Người có bộ phận sinh dục không điển hình là nam hay nữ. Ông được mô tả trong nhật ký hành trình của Crawfurd – thương nhân người Anh đến Sài gòn khoảng năm 1822, là; cằm không có râu, giọng nói yếu ớt, tuy chat tai như đàn bà nhưng chưa tới mức khiến người ta phải nghi ngờ [là hoạn quan], đồng thời cũng nhận xét Gia Định dưới quyền điều hành của ông là một vùng đất trù phú, dân chúng hân hoan vui vẻ và yêu mến Tổng trấn của mình.

Sinh khoảng năm 1763 – 1764, mất năm 1832. Ông là người thái giám thứ 3 trong lịch sử Việt Nam nổi danh với những chiến công trận mạc, đóng góp cho triều đình lúc sinh thời, đồng thời khi ông giữ chức vụ Tổng Trấn Gia Định – có vẻ tựa tựa như Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố bây giờ – thì cũng được nhiều sử gia đánh giá là có công lao trong ngoại giao với nước láng giềng, người phương Tây.

Cái oan mà ông gánh chịu lại xảy ra sau khi ông mất khoảng 3 năm. Lê Văn Khôi – một trong những người con nuôi của ông làm phản và lấy tên ông để chống lưng. Vua Minh Mạng xử Lê Văn Khôi tội chết, và dù Lê Văn Duyệt đã mồ xanh cỏ, nhưng lại bị mang danh chứa chấp và bội nghịch đối với vua. Vua Minh Mạng muốn trừ hậu họa về sau nên đã xử trảm tất cả con nuôi của Lê Văn Duyệt, phần mộ của ông bị Vua san bằng và đóng xiềng, gắn lên một tấm bia “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Nghĩa là: Đây là nơi tên hoạn quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phạt). Đến tận gần 100 năm sau, đời vua Thiệu Trị (khoảng năm 1849) thì ông mới được rửa án oan, phục chức và xây lại mộ phần cho nhân dân thờ cúng.

Nhắc đến nỗi oan của ông, ngoài cái oan phản nghịch, còn thêm cái oan nữa mà lịch sử vẫn chưa gột sạch, là nỗi oan “lộng quyền thái giám”. Từ sau sự kiện Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng đặc biệt cảnh giác quyền lực của các thái giám trong cung. Vua Minh Mạng cho khắc bia đá nhắc nhở các thế hệ quan lại về sau chỉ được sử dụng thái giám để sai vặt trong cung, cấm cho tham gia việc triều chính.

Lê Văn Duyệt được minh họa trên tờ 100 VND của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
[/cq_vc_expandgrid_item][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”VUA KHẢI ĐỊNH (1885 – 1925)” bgstyle=”lightgray” image=”7730″ isresize=””]
Artwork by Chilli from workshop Xưởng Tạo Bóng

VUA KHẢI ĐỊNH

Xét trên quan niệm thời xưa, thì việc vua Khải Định không đoái hoài đến cung tần mỹ nữ của mình khiến ông bị coi là bất lực. Việc chồng bất lực, không ngó ngàng gì đến mình, lại cộng thêm ham mê cờ bạc tiêu tốn của cải gia đình nhà vợ là lý do khiến bà Đệ nhất giai phi họ Trương, vợ ông, đã bỏ ông mà đi tu. Đồng thời, cũng vì cái danh bất lực ấy, mà sau nàycũng có nhiều lời đồn đoán Bảo Đại cũng không phải con ruột của ông; người lại đồn rằng ông dùng thuốc bổ, tự dưng muốn gần gũi phụ nữ, nên ông mới ban ơn cho cung nữ Hoàng Thị Cúc.

Nhưng xét trên cái nhìn hiện đại, báo chí và những người quan tâm đến cuộc đời của Khải Định cho rằng ông không hề bất lực, mà thực ra là ông không thích đàn bà mà thích đàn ông, nhất là khi “để ý” đến những sở thích của Khải Định trong thưởng thức âm nhạc múa hát: tỏ ra buồn chán không quan tâm tới các thị nữ, gợi ý thay đổi thành vũ công nam tô son má hồng; cách thức trưng diện phục sức khác thường (so với thời điểm đó), quan hệ tôi tớ của ông và thị vệ Nguyễn Đắc Vọng, cũng như cách ông đối xử với những người vợ của mình.

“Vua Khải Định là Hoàng trưởng tử của vua Đồng Khánh (1885 – 1888). Khải Định là một trong hai vị vua mang tiếng “bất lực”, nghĩa là kém khả năng trong tình dục, ân ái.

Suốt 10 năm làm vua (1916-1925), ông đã nuôi Nguyễn Đắc Vọng làm thị vệ. Ban đêm ông ôm Vọng mà ngủ. Nhờ sự khéo léo trong việc phục tùng này mà ông Vọng đã được thăng tiến đến Ngũ đẳng thị vệ.

Những buổi sáng phải ra điện Cần Chánh thiết triều, các bà đứng hai hàng bái kiến đón chào, ông liền dùng tay ôm gọn hai vạt áo bào sát vào người để khỏi vương vào “đàn bà”…

Nhiều người biết Khải Định bất lực, chính vua cũng nhận điều đó.Thế nhưng các quan đại thần thì vẫn muốn “tiến” cung con gái mình vào làm vợ vua. Khó lòng chối từ, vua thường nói với các quan “Nội cung của Trẫm là một cái chùa (ý nói không có chuyện ái ân tình dục), ai muốn tu thì cứ vào!”. Do đó, dù Khải Định không gần gũi đàn bà, ông vẫn có đủ tam cung lục viện như các vua tiền triều.”

Đương thời, Khải Định bị đánh giá là một ông vua không được lòng dân, thuở thiếu thời thì ham mê cờ bạc, tiêu tốn của cải của gia đình nhà vợ. Đến khi giữ ngôi vị là Vua nhà Nguyễn, thì ông cũng bị chế nhạo, khiển trách vì sự thân Pháp, chuộng xa xỉ, không quan tâm đến con dân. Trong Thất điều trần – Bức di cảo của Phan Châu Trinh liệt kê 7 cái tội của Khải Định, tạm gác những cái tội khác mà lịch sử gán lên ông vua Khải Định, hãy bàn về cái sự “phục sức không đúng phép” được nhắc đến trong Thất điều trần trên. Những tài liệu sử sách chép lại về phong cách ăn mặc, phục sức của Khải Định, cho thấy ông đầu tư rất nhiều cho các thiết kế trang phục của cả bản thân, lẫn của quan lại, lính tráng. “Vua chuộng và coi trọng việc trang điểm, phối hợp màu sắc điểm xuyết bằng cách đính các viên ngọc quý, vàng bạc, kim cương… trên áo quần, giày, ủng, mũ nón, bao kiếm…Vua chế ra một số y phục long bào vượt qua các mẫu mã qui định truyền thống của các vua chúa thời trước… Ngoài ra, thay vì mang hia, vua đi ủng da láng bóng, có trang trí hoa văn bằng bạc, ngang lưng mang đai cẩn ngọc, mang kiếm Pháp, đeo bao tay trắng, quần tây trắng, nhưng đầu vẫn bịt khăn đóng và có khi đội nón chóp. Cái nón này lợp bằng lông vũ, bọc lụa vàng, có chóp bằng vàng. Vua cũng có một cái nón chóp khác màu đen.”

Nguồn 1 / Nguồn 2: Truyện các bà trong cung Nguyễn – tác giả Nguyễn Đắc Xuân (1994).[/cq_vc_expandgrid_item][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”NHÀ NHO LẠI CÁI” bgstyle=”lightgray” image=”7731″ isresize=””]

Artwork by Eric at the workshop Xưởng Tạo Bóng

NHÀ NHO LẠI CÁI

Vào thế kỉ XVII – XVIII, xã hội có nhiều biến động với sự chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài. Khi Đàng Trong có vẻ phóng khoáng hơn, thì Đàng Ngoài, những nho sĩ bị cấm đoán nhiều hơn. Theo lý giải của nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, chính sự đè nén về chính trị và đạo đức đã khiến một bộ phận tác giả mượn lời người nữ, “núp bóng đàn bà”, “chuyển giới tưởng tượng để thác lời, sáng tác”. Và họ trở thành những “nhà Nho lại cái”.
Nói tới “nhà Nho lại cái”, ta phải kể đến Nguyễn Gia Thiều với tác phẩm “Cung ngâm oán khúc” hay tác giả của “Chinh Phụ Ngâm” nổi tiếng – Đặng Trần Côn. Không chỉ là những lời thơ ai oán, đau khổ mà những bài thơ còn chứa đựng sự táo bạo thấm đẫm những nhục cảm đầy nghệ thuật mà có lẽ ta sẽ chỉ hầu như bắt gặp ở những tác phẩm của tác giả nam:

Tay Nguyệt lão khờ sao có một,
Bỗng tơ tình vướng gót cung phi.
Cái đêm hôm ấy đêm gì,
Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng.
(Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều)

Quân trước đã gần ngoài Doanh Liễu,
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương.
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
(Chinh Phụ Ngâm – Đặng Trần Côn)

Trong một nghiên cứu của mình, tác giả Trần Ngọc Hiếu đã đề cập tới hiện tượng “lại cái” và nhận xét cái yếu tố “queer” thể hiện ở phương thức tự sự này. Đó là “Khi nam giới trở thành trung tâm của ý thức hệ, nó không chỉ ngoại vi hóa, vô hình hóa, tạo nên những trấn áp đối với những giới tính khác, ý niệm nam tính còn trấn áp, đè nén chính bản thân của người đàn ông”.

Đối với văn học Việt Nam, motif “đổi vai”, hay “lại cái”, khó có thể đoán biết được tác giả đang tự sự này là người queer hay đây chỉ là một trong những thủ pháp nghệ thuật mà họ sử dụng trong sáng tác. Dù câu trả lời là gì, thì giá trị nghệ thuật của các tác phẩm này cũng không hề giảm sút.

Xem xét việc “lại cái” trong các tác phẩm của thời đại xã hội trọng nam khinh nữ ấy, khi mà các nhà Nho liên tục cố gắng đập bỏ đi rang buộc về giới trong hoạt động sáng tác của mình, thì chúng tôi nảy ra một suy nghĩ rằng: Phải chăng, nhu cầu phá bỏ những khuôn mẫu giới đã luôn có trong xã hội, và luôn luôn có những người, bằng cách này hay cách khác, đấu tranh cho quyền thể hiện con người mình theo cách họ muốn.

Nguồn: Trần Ngọc Hiếu: Văn học đồng tính ở Việt Nam: từ những hình thức ngụy trang đến những tự thuật thú nhận giới tính Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6 năm 2014

[/cq_vc_expandgrid_item][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”TÌNH TRAI THỜI CHIẾN” bgstyle=”lightgray” image=”7732″ isresize=””]

Artwork by Pham Hoang Anh at the workshop Xưởng Tạo Bóng

TÌNH TRAI THỜI CHIẾN

Thời chiến, chúng tôi gọi có thứ là tình trai, không ai chắc đến giờ nó phải là tình yêu đồng giới của những người nam, hay là thứ tình cảm thân thiết tri âm tri kỷ của những nghệ sĩ, của những anh bộ đội, anh lính ngày ấy. Nhưng điều gì đã xảy ra đi chăng nữa, nó không làm giảm đi giá trị những bài thơ hay bài hát mà những người thời ấy viết ra, dù là tình yêu họ đã hát, đã ngâm nga là tình trai trai hay tình trai gái, nó vẫn thắm thiết và lay động lòng người vô cùng. Kể đến ở đây có 2 nhân vật mà nhiều người biết đến, một là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Từ Linh, và hai là nhà thơ Xuân Diệu.

1. Đoàn Chuẩn – Từ Linh (trích từ bài viết của Lương Thế Huy)

“Đoàn Chuẩn – Từ Linh” là một cái tên âm nhạc khá lạ của âm nhạc Việt Nam, tác giả này chỉ sáng tác 18 bài hát, nhưng vẫn đủ trở thành cái tên được nhiều thế hệ biết tới với nhiều bài hát bất hủ. Ít người biết rằng thực ra chỉ có Đoàn Chuẩn là người sáng tác cả nhạc và lời, còn Từ Linh chỉ là người bạn mà Đoàn Chuẩn đặt tên chung trong tất cả sáng tác của mình. Điều này do con trai của Đoàn Chuẩn tiết lộ, tuy nhiên gia đình cũng chỉ biết có thế!

Là con của chủ hãng nước mắm nổi tiếng Vạn Vân (từ năm 1955 trở về trước), thời trai trẻ của “công tử” Đoàn Chuẩn rất hào hoa phóng túng, mê âm nhạc và mê… ô tô. Ông có tới 6 chiếc, trong đó có chiếc Cadillac, Ford Frégatte hạng sang, có một không hai ở miền Bắc lúc bấy giờ.

Thực ra thân thế của Từ Linh không ai xác minh được, có người khẳng định Từ Linh là người lái xe cho Đoàn Chuẩn, có người nói Từ Linh là một nhiếp ảnh gia, có người bảo chỉ là bạn. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha kể trong một lần đến chơi nhà Đoàn Chuẩn ở phố Cao Bá Quát, tác giả “Thu quyến rũ” chỉ sang phía Cửa Nam và nói đó là nhà “nó”. “Nó” là tên là Tư, biệt hiệu là “lì”, cái tên lãng mạn hóa đi, thành ra Từ Linh. Chỉ biết chắc Từ Linh là một người bạn rất tâm đầu hợp ý với Đoàn Chuẩn. Phủ nhận Từ Linh là “bóng hồng”, nhưng hai từ “tri âm” lại được dùng khi Đoàn Chuẩn nói về Từ Linh.

Trong suốt 6 tháng trời Từ Linh bị liệt nằm viện cho đến lúc ông qua đời (1987), ngày nào Đoàn Chuẩn cũng sang thăm Từ Linh 2 giờ đồng hồ.

Trong một đêm nhạc Đoàn Chuẩn tổ chức tại Hội Nhạc sĩ Việt Nam một năm sau khi Từ Linh mất, Đoàn Chuẩn đã bật khóc: “Tiếc quá, Từ Linh nó không còn.” Sau khi Từ Linh mất cho đến cuối đời, ông chỉ còn sáng tác thêm một ít ca khúc, vẫn đứng tên chung hai người.

2. Xuân Diệu và cuộc kiểm điểm tình trai

Xuân Diệu nổi tiếng với thơ tình, thắm thiết và da diết, yêu nồng nhiệt. Người ta đồn đoán ông là người đồng tính, và thơ của ông là viết cho những người trai ông yêu. Điều đó chúng tôi sẽ không nhắc đến ở đây, vì rõ ràng, những cái nhãn tính dục nên do cá nhân tự đặt cho mình, ta không có quyền phán xét để áp lên họ. Chúng tôi chỉ đặt lại một đoạn trích trong Cát bụi chân ai của Tô Hoài, nói về cuộc kiểm điểm mà Xuân Diệu là nhân vật trọng tâm, người bị kiểm điểm về những cái tình của ông.

“Cuộc kiểm điểm Xuân Diệu kéo liền hai tối… Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Không biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyến rũ, mình cũng điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể việc ấy nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt nghiêm trang phê phán tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi. Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…! rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả.”

Nguồn 1 / Nguồn 2 / Nguồn 3

[/cq_vc_expandgrid_item][cq_vc_expandgrid_item avatartype=”none” tooltip=”CỘNG ĐỒNG QUEER NHỮNG NĂM 50 – 70″ bgstyle=”lightgray” image=”7733″ isresize=””]

Artwork by Ian Quee from workshop Xưởng Tạo Bóng

CỘNG ĐỒNG QUEER NHỮNG NĂM 50 – 70

Những ngày sau khi chiến tranh kết thúc, cho đến khi đất nước thống nhất, là những ngày ẩn hiện của cộng đồng queer ở tại hai miền đất nước. Ở miền Nam, sự hiện diện của người queer khá rõ nét, thể hiện mạnh mẽ và cũng sôi nổi. Có những quán bar, nhà hàng, rạp chiếu bóng là nơi người trong giới lui tới, tìm bạn và tìm bạn tình, hoặc bán dâm nam, có những buổi tiệc tùng với hóa trang cải giới. Về sau, cộng đồng queer miền Nam còn hiện diện rõ hơn với những gánh hát lô tô về các miền quê, với những người biểu diễn là chuyển giới nữ hoặc đồng tính nam.

Ở miền Bắc, ít thấy người queer hiện diện hơn. Thi thoảng mới thấy một câu chuyện, lời đồn về người nam nào đấy ăn mặc hoặc đi đứng nói năng như người nữ, mà phần nhiều gắn với hình ảnh Đồng cô – Bóng cậu trong Đạo Mẫu. Tín ngưỡng trở thành một không gian riêng mà những chuẩn mực về giới được phá bỏ. Các Đồng cô, Bóng cậu được trọng vọng, kính nể vì là người có thể giao tiếp với thần thánh, linh hồn trong tín ngưỡng. Về sau này thì người ta cũng dùng từ đồng cô, đồng bóng, bóng để ám chị những người nam có thể hiện nữ tính, bất kể có vị trí trong tín ngưỡng hay không, và thường theo nghĩa miệt thị sự “lệch chuẩn” trong thể hiện giới của những người này.

Nguồn:

1. Lê Xuân Quang, dutule.com;
2. Continuum Complete International Encyclopedia of Sexuality –Robert T. Francoeur & Raymond J. Noonan
3. Nhà văn Hồ Trường An – sống theo cái đức,http://damau.org/[/cq_vc_expandgrid_item][/cq_vc_expandgrid]

Lời cảm ơn

Dự án Vietnam Queer History Month 2017 được thực hiện bởi:
Điều phối dự án: Phạm Khánh Bình.
Giám tuyển: Nguyễn Bích Phương, Phạm Khánh Bình.
Trợ lý dự án: Đỗ Quỳnh Hoa, Xa Thúy Quỳnh, Vũ Thị Thanh Thanh, Nguyễn Thị Kim Linh.
Thiết kế đồ họa: Phạm Khánh Bình, Phạm Quang Anh, Phạm Trường Thành.
Thực hiện minh họa: Thanh Vũ, H K Niê, Quanh, JBA, Su Kem, Châu Chun, Hoàng, Anh Tuấn, Mến Còi, NA, Mốc, Moew, MTT, Nguyễn Ngọc Bích, Mun, Harriette, Vũ Trần, Nguyễn Ngọc Minh, Cá, Wil, Ian, Eric Pham, Lâm Lưu, Foong, Phát, Zayn, Dương, Honey, Hoàng Anh, Khoai, H.Y, Phương Ớt.
Biên dịch: Hà Nguyễn, Hải Anh, Hoàng Yến, Mingy, Sunny, Lâm Lưu.
Truyền thông: Vũ Thu Hiền, Chu Lan Anh.
Cố vấn kỹ thuật: Ian Quee, Nhung Đinh, Lương Thế Huy.
Nhà tài trợ: Quỹ Người Khởi Xướng và Savage.
Lời cảm ơn đặc biệt tới:
– Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) và Trung tâm ICS đặc biệt là chị Trần Chung Châu, Đỗ Thu Vân, Trịnh Thị Thúy Hạnh, Lê Phan Anh Thư và anh Huỳnh Minh Thảo đã hỗ trợ.
– Trần Quang Thọ, Xander Hoàng, Nguyễn Giang Thu, Nguyễn Trung Nghĩa, Nguyễn Ngọc Sơn, Jay Lê, Nguyễn Ngọc Minh, Hà Anh, Hoàng Anh, Ngô Thị Thùy Yên, Pun, Gia Hân, Mia, Muối, Phương, Hà, Thảo, Trung đã tình nguyện hỗ trợ và kết nối dự án với cộng đồng.
– Ouissam Mokretar và đội ngũ Savage đã tài trợ địa điểm và hỗ trợ kỹ thuật cho triển lãm.
– Nhà Mười Hai Thứ Nhất đã hỗ trợ địa điểm cho chuỗi workshop “Xưởng tạo bóng”.
– Cùng rất nhiều các bạn cộng đồng LGBTQ tại Hà Nội đã đóng góp thông tin và kiến thức.